Mua phôi Teak Lào theo m³ nhưng thi công sàn theo m² dễ gây lệch dự toán nếu chỉ lấy thể tích chia cho độ dày ván. Phôi còn phải qua chọn lọc, bào, cắt đầu và gia công; diện tích gỗ thực có cũng khác diện tích mặt sàn bao gồm khe hở.
Để quy đổi m³ phôi Teak Lào sang m² sàn, cần biết kích thước phôi đầu vào, quy cách ván hoàn thiện và lượng ván đạt yêu cầu sau gia công. Cách chắc chắn hơn một hệ số truyền miệng là lập bảng đầu vào – đầu ra cho chính lô gỗ dự kiến sử dụng.

Phân biệt ba đại lượng trước khi quy đổi

| Đại lượng | Cách xác định | Dùng để làm gì? |
|---|---|---|
| Thể tích phôi, m³ | Cộng dày × rộng × dài × số thanh theo từng nhóm quy cách | Kiểm tra lượng nguyên liệu mua vào |
| Diện tích mặt ván thành phẩm, m² | Cộng bề rộng mặt ván × chiều dài sử dụng của các thanh đạt yêu cầu | Xác định lượng ván có thể giao hoặc sử dụng |
| Diện tích phủ sàn, m² | Đo theo ranh giới mặt bằng, thống nhất cách tính khe, bo viền và phần khoét | Đối chiếu bản vẽ và khối lượng thi công |
Ba con số này không thể thay thế nhau. Đặc biệt, khe giữa các thanh sàn ngoài trời chiếm diện tích mặt bằng nhưng không phải là gỗ. Ngược lại, ván đã mua có thể bị cắt ngắn tại công trường nên diện tích giao đến chưa chắc bằng diện tích gỗ nằm lại trên sàn.
Với ván có hèm, rãnh hoặc mặt cắt đặc biệt, phải xác nhận bề rộng phủ hữu ích và quy ước nghiệm thu. Không lấy bề rộng tổng thể thay cho bề rộng phủ mà chưa kiểm tra cấu tạo. Các ví dụ dưới đây dùng ván chữ nhật, không có phần hèm chồng lên nhau.
Bước 1: tính đúng thể tích phôi đầu vào

Công thức cho một nhóm phôi cùng kích thước là: V = số thanh × dày × rộng × dài. Tất cả kích thước phải đổi về mét trước khi nhân. Nếu một lô có nhiều chiều dài hoặc tiết diện, tính từng nhóm rồi cộng, không dùng kích thước lớn nhất cho toàn lô.
Ví dụ, phôi 30 × 150 × 2.100 mm có thể tích một thanh bằng 0,030 × 0,150 × 2,100 = 0,00945 m³. Một trăm thanh như vậy tương ứng 0,945 m³ theo kích thước giả định.
Khi nhận hàng, cần thống nhất kích thước tính tiền là kích thước danh nghĩa hay kích thước đo thực tế, đo ở trạng thái nào và xử lý sai lệch ra sao. Nếu đang so sánh báo giá nguyên liệu, có thể tham khảo thêm cách xác định khối lượng trong bài giá gỗ Teak nguyên khối theo m³; đừng vội so đơn giá m³ với đơn giá m² của ván đã gia công.

Bước 2: ghi nhận diện tích ván đạt yêu cầu sau gia công

Không phải toàn bộ thể tích phôi sẽ trở thành mặt ván sử dụng được. Bào giảm chiều dày, xẻ giảm bề rộng, cắt đầu và loại thanh không đạt đều làm thay đổi đầu ra. Mức thay đổi phụ thuộc lô nguyên liệu, yêu cầu ngoại quan và quy cách đặt hàng, không có một tỷ lệ cố định áp dụng cho mọi phôi Teak Lào.
Thay vì cộng nhiều tỷ lệ hao hụt ước lượng, hãy ghi lại số thanh đạt cùng kích thước cuối cùng. Với mỗi nhóm ván, diện tích mặt ván bằng số thanh đạt × bề rộng mặt ván × chiều dài sử dụng. Phần cắt thừa chỉ được tính là sản phẩm tận dụng nếu thực sự có hạng mục dùng được và đã được hai bên chấp thuận.

Ví dụ đầy đủ: 0,945 m³ phôi cho bao nhiêu m² ván?

Đây là ví dụ giả định để minh họa phép tính, không phải cam kết tỷ lệ thu hồi của Ferino hay của một lô Teak Lào cụ thể. Giả sử có 100 thanh phôi 30 × 150 × 2.100 mm. Phương án gia công dự kiến mỗi thanh cho một ván hoàn thiện 22 × 120 × 2.000 mm; sau kiểm tra, 95 thanh đạt yêu cầu.
| Hạng mục | Phép tính | Kết quả |
|---|---|---|
| Thể tích 100 phôi đầu vào | 100 × 0,030 × 0,150 × 2,100 | 0,945 m³ |
| Diện tích một ván hoàn thiện | 0,120 × 2,000 | 0,24 m² |
| Đầu ra nếu cả 100 thanh đạt | 100 × 0,24 | 24 m² |
| Đầu ra thực tế giả định: 95 thanh đạt | 95 × 0,24 | 22,8 m² |
| Hệ số đầu ra K | 22,8 ÷ 0,945 | Khoảng 24,127 m²/m³ |
Hệ số K ở đây là diện tích ván đạt sau gia công chia cho thể tích phôi ban đầu. Nó đã phản ánh việc giảm kích thước từ phôi sang ván và việc loại 5 thanh. Vì vậy, sau khi lấy thể tích nhân K, không tiếp tục trừ thêm hao hụt bào, cắt đầu hoặc loại thanh của cùng công đoạn.
K chỉ có ý nghĩa trong phạm vi đầu vào, đầu ra và tiêu chí đã ghi. Nếu đổi sang ván rộng hơn, yêu cầu chiều dài khác hoặc chọn màu chặt hơn, phải kiểm tra lại. Khi chưa có kết quả gia công, K là hệ số dự kiến cần xác nhận bằng mẫu hoặc lô thử, không phải số lượng đảm bảo giao hàng.
Vì sao lấy 1 m³ chia độ dày có thể sai?

Phép tính 1 ÷ 0,020 = 50 m² đúng về hình học nếu 1 m³ đó đã là thể tích ván thành phẩm chữ nhật dày đều 20 mm. Nó không tự động đúng cho 1 m³ phôi thô. Phôi dày hơn, rộng hơn, còn phải cắt sửa hoặc bị loại sẽ có đầu ra khác.
Trong ví dụ trên, lấy 0,945 ÷ 0,022 cho khoảng 42,95 m² sẽ bỏ qua phần giảm bề rộng, chiều dài, chiều dày phôi và các thanh không đạt. Con số này không đại diện cho 22,8 m² ván thực thu. Cũng không nên lấy thể tích vật liệu còn lại sau khi soi rãnh chia cho độ dày danh nghĩa để suy ra diện tích phủ: mặt cắt khi ấy không còn là hình chữ nhật đầy đủ.

Tính ngược: cần bao nhiêu m³ phôi cho 30 m²?

Trước hết phải hỏi: 30 m² là diện tích ván cần nhận hay diện tích sàn trên bản vẽ? Nếu cần mua đủ 30 m² ván thành phẩm, và tạm dùng K = 24,127 m²/m³ của ví dụ, thể tích phôi dự kiến là V = 30 ÷ K ≈ 1,244 m³. Con số làm tròn này còn phải quy về số thanh và lô hàng thực tế.
Nếu cần 30 m² gỗ nằm lại trên sàn sau cắt lắp, đồng thời giả định hiệu suất sử dụng tại công trường là 90%, lượng ván cần giao sẽ là 30 ÷ 0,90 ≈ 33,333 m². Khi đó thể tích phôi dự kiến bằng 33,333 ÷ K ≈ 1,382 m³. Mức 90% chỉ là giả định tính toán, không phải tỷ lệ nên áp dụng mặc định cho công trình.
Lưu ý: chia cho hiệu suất 90% không giống cộng thêm 10%. Trong ví dụ này, cộng 10% chỉ cho 33 m², còn lượng cần theo hiệu suất là khoảng 33,333 m². Hai cách phải được gọi đúng tên và dùng nhất quán.
Hao hụt gia công tại xưởng và hao hụt cắt lắp tại công trường là hai công đoạn khác nhau. Chỉ tính riêng phần công trường khi K chưa bao gồm phần đó. Cách bố trí ván, chiều dài thanh và khả năng tận dụng đoạn cắt có thể tham khảo trong bài chọn ván Teak Lào ngắn hay dài.
Sàn có khe: diện tích phủ không bằng diện tích gỗ

Giả sử xếp 20 thanh, mỗi thanh rộng 120 mm, dài 2.000 mm, giữa các thanh có 19 khe, mỗi khe 6 mm. Đây chỉ là kích thước minh họa phép tính; khe thi công thực tế phải theo thiết kế và cấu tạo đã duyệt.
- Diện tích gỗ: 20 × 0,120 × 2,000 = 4,8 m².
- Bề rộng phủ cả cụm: 20 × 0,120 + 19 × 0,006 = 2,514 m.
- Diện tích hình chữ nhật phủ: 2,514 × 2,000 = 5,028 m².
Ví dụ chưa tính khe đầu thanh, khe biên, bo viền hoặc vị trí khoét. Phần chênh 0,228 m² là diện tích các khe trong cụm, không phải lượng gỗ có thêm. Không tăng khe tùy ý để giảm vật tư; phải dựng cách chia thanh theo mặt bằng thực tế rồi mới chốt số lượng.

Những thông tin nên có trong bảng đặt phôi và gia công

Một bảng chào hàng rõ ràng nên tách quy cách phôi, quy cách thành phẩm, số lượng đầu vào, số lượng dự kiến đạt và cách nghiệm thu. Ngoài kích thước, cần thống nhất độ ẩm yêu cầu, dung sai, tiêu chí chọn màu và khuyết tật được chấp nhận. Các điều kiện này phải được kiểm tra theo lô, không suy ra từ tên gỗ hoặc ảnh sản phẩm.
Đối với phôi nhiều chiều dài, nên yêu cầu danh sách từng nhóm thay vì một dòng tổng m³. Đối với ván giao thành phẩm, cần xác định báo giá tính theo mặt ván, bề rộng phủ hay diện tích sàn lắp hoàn chỉnh; đồng thời làm rõ bo viền, khung, phụ kiện và vận chuyển có nằm trong phạm vi chào hàng không.
Khi cần đối chiếu ngân sách, xem bảng giá và quy cách gỗ Teak Lào để hiểu nhóm sản phẩm đang so sánh. Bài quy đổi này không đưa một mức giá mới hoặc suy đơn giá thành phẩm chỉ từ giá nguyên liệu.

Câu hỏi thường gặp
1 m³ phôi Teak Lào luôn làm được bao nhiêu m² sàn?
Không có một con số chung đủ tin cậy cho mọi lô. Cần biết kích thước phôi, cách gia công, quy cách đầu ra và tiêu chí chọn lọc. Có thể dùng hệ số đo từ lô thử phù hợp để dự toán, nhưng phải ghi rõ đó là ước tính.
Có thể lấy một tỷ lệ hao hụt rồi áp cho cả công trình không?
Chỉ nên dùng khi phạm vi của tỷ lệ đã rõ và có cơ sở từ công việc tương tự. Không cộng tiếp hao hụt của công đoạn đã nằm trong hệ số. Mặt bằng nhiều góc, thay đổi hướng lát hoặc yêu cầu ván dài cần bóc tách theo cách chia thực tế.
Đã có diện tích trên bản vẽ thì đặt phôi ngay được chưa?
Chưa đủ. Cần chốt hướng lát, quy cách ván, khe, bo viền và các phần khoét; từ đó xác định số thanh hoặc diện tích ván cần giao. Sau bước này mới quy ngược về phôi bằng phương án gia công có thể thực hiện.
Nếu đang chuẩn bị đặt vật tư, bạn có thể gửi Ferino mặt bằng, quy cách ván mong muốn và bảng phôi hiện có. Việc đối chiếu cùng một bộ thông số sẽ giúp tách rõ lượng gỗ mua vào, lượng thành phẩm dự kiến và phần dự phòng cắt lắp trước khi chốt đơn hàng.

